Thứ Ba, 17 tháng 2, 2015

Nét đặc sắc văn hóa Tết ở Nhật Bản

Nhật Bản là cường quốc công nghiệp phát triển đứng thứ hai trên thế giới (sau Mỹ) và là nước châu Á đầu tiên đã mở cửa du nhập văn hoá, văn minh phương Tây ngay từ năm 1868 với công cuộc cải cách duy tân mang tên Thiên hoàng Minh Trị (Meiji). Tuy nhiên, Nhật Bản ngày nay vẫn nổi tiếng là quốc gia chú trọng gìn giữ và phát huy những nét đẹp của bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó phải kể đến bản sắc độc đáo của văn hóa Tết..
 
Do ảnh hưởng văn hoá phương Tây nên người Nhật từ lâu đã không đón Tết Nguyên Đán theo thời gian âm lịch như Việt Nam, Trung Quốc và một số nước châu Á khác. Cũng vì ảnh hưởng văn hoá phương Tây nên người Nhật hiện đại, nhất là lớp trẻ rất quan tâm đến một số ngày lễ lớn có khởi nguồn từ phương Tây nhưng đã du nhập sang Nhật Bản và được “Nhật hoá”, đồng thời tồn tại, giao thoa cùng với nhiều lễ hội văn hoá truyền thống khác của người Nhật. Minh chứng rõ nhất, chỉ tính riêng tháng 1 dương lịch, trong khi người Việt chúng ta còn đang bình thản với tháng Chạp cuối năm âm lịch thì người Nhật đã hối hả, sôi động trong không khí vui đón các ngày lễ hội lớn nhất của năm cũ sắp qua và năm mới bắt đầu đến. Đó là Lễ Noel (25/12 của năm cũ), Tết Nguyên Đán đón năm mới dương lịch diễn ra suốt cả những ngày đầu năm, Lễ Thành nhân (15/1). Sự đồng thời diễn ra liên tiếp các lễ hội lớn nhất này càng khiến cho bầu không khí “Tết” ở Nhật Bản rất sôi động và có cơ hội kéo dài suốt gần cả tháng trời kể từ trung tuần tháng 12 năm cũ đến trung tuần tháng 1 năm mới.
 


tet-o-nhat-ban
 
Điều đặc biệt như đã đề cập là bên cạnh sự giao thoa, ảnh hưởng sắc thái văn hoá phương Tây, song do là nước châu Á nên văn hóa Nhật Bản nói chung và văn hóa Lễ hội, văn hóa Tết nói riêng từ nhiều thế kỷ qua cho đến nay vẫn còn ảnh hưởng cả sắc thái văn hóa Trung Hoa. Khi quan sát, nghiên cứu về từng lễ hội hàng năm của Nhật Bản, ta sẽ thấy văn hóa Lễ hội Nhật Bản mặc dù thấm đậm màu sắc của Thần đạo ( Shinto giáo ) là Quốc đạo, Quốc giáo của người Nhật, nhưng vẫn đồng thời chịu ảnh hưởng sâu sắc từ đạo Phật ( Phật giáo ) với các triết lý sống khởi nguồn từ các bậc thầy Nho giáo của Trung Quốc: Khổng Tử, Mạnh Tử, Chu Tử… Ở Nhật ngày nay mặc dù là nước công nghiệp hiện đại song vẫn lưu giữ truyền thống hoà hợp tâm linh của con người đối với Thần, Phật và lòng biết ơn sâu sắc đối những ưu đãi mà thiên nhiên ban tặng. Đó cũng chính là nền tảng của bản sắc văn hóa truyền thống Nhật Bản đã thể hiện rất rõ trong hầu hết các phong tục, tập quán, lễ hội của người Nhật, trong đó phải kể đến các phong tục, tập quán, lễ hội đã diễn ra trong dịp Tết Nguyên Đán vui đón năm mới. Khi tìm hiểu văn hoá Tết của người Nhật Bản, chúng ta có thể thấy rất rõ một số nét đẹp truyền thống cơ bản sau:

- Để chuẩn bị đón năm mới, trong nhũng ngày cuối năm cũ, các gia đình Nhật Bản đều có tập quán dọn dẹp nhà cửa, trang trí kadomatsu trước cổng và shimekazari trên cửa ra vào và bàn thờ. Kadomatsu được làm từ cành thông cùng tre và mai để đón Thần năm mới; còn shimekazari có ý nghĩa đuổi quỷ trừ tà. Bánh dày năm mới kagamimochi được bày trên tokonoma là góc trang trọng nhất trong nhà, được coi là chỗ ngồi của Thần. Bánh này được làm từ loại gạo nếp mà người Nhật cho rằng mang hồn của cây lúa.

- Từ lâu, trong tâm linh người Nhật đã coi Tết Nguyên Đán được bắt đầu từ khi họ làm Lễ đón Giao thừa - thời điểm chuyển giao năm cũ sang năm mới bắt đầu từ 24 giờ ngày 29 hoặc 30 hoặc 31/12 dương lịch tuỳ theo năm đó là năm thiếu, đủ hay thừa (nhuận ) ngày, cho đến 1 giờ ngày 1/1 dương lịch. Ba ngày đầu từ mồng 1-3/1 được coi là 3 ngày đặc biệt, thiêng liêng nhất của Tết Nguyên Đán. Tập quán từ ngày xưa là không làm việc trong 3 ngày này. Ngày nay, phần lớn các cơ quan công sở đều nghỉ làm, các cửa hàng dịch vụ thương mại cũng đều đóng cửa cho tới hết mồng 3. Tuy nhiên truyền thống này cũng đang thay đổi nhiều trong cuộc sống đương đại bởi sự xuất hiện của nhiều cửa hàng Am/Pm (24/24 h) phục vụ quanh năm không nghỉ; và trên thực tế do sự giầu mạnh của nền kinh tế Nhật Bản nói chung và từng gia đình người Nhật nói riêng nên xu hướng nhu cầu kéo dài Tết để hưởng thụ những ngày vui vẻ, thư giãn sau một năm lao động căng thẳng đã gia tăng phổ biến trong nhiều tầng lớp cư dân Nhật. Điều đó khiến cho, chỉ trừ một số cơ quan, công sở, ngành, nghề do nhiệm vụ quy định chặt chẽ nhất nhất phải thực hiện nghiêm kỷ luật lao động, không thể kéo dài Tết; còn đa số người Nhật đều có tâm lý mong được kéo dài Tết cho đến qua ngày Lễ Thành nhân 15/1.

- Theo phong tục, tập quán từ xưa, tại các gia đình và nhiều năm qua của thời đương đại kể cả tại nhiều cơ quan , công sở, công ty, cửa hàng… đều đặt kadomatsu trước cổng ra vào từ những ngày giáp tết cho đến hết ngày mồng 7/1. Mọi người đều ăn mặc đẹp, đến đền chùa làm lễ hatsumode đầu năm. Để mặc kimono, các phụ nữ Nhật đều phải búi tóc theo kiểu truyền thống rất cầu kỳ. Dịp đầu năm, do các tiệm làm đầu đóng cửa hoặc thường có lịch hẹn trước dày đặc, nên nhiều người có khi phải làm từ ngày hôm trước và giữ tóc qua đêm khiến mất ngủ, nhưng không ai phàn nàn mà trái lại vẫn rất phấn khởi, thanh thản vì đã có được mái tóc truyền thống như ý. Ở các đền thờ, khi đến làm lễ, người Nhật thường mua mũi tên trừ ma quỷ gọi là hamaya để gắn kèm vào kadomatsu trước cổng nhà; và cũng tại các đền thờ đó, họ có thể tùy tâm xóc quẻ rút lá số xem bói bản thân, gia đình năm đó.

- Sáng mồng 1 Tết, các gia đình đều làm lễ đón mừng năm mới ( Oshogatsu ). Đầu tiên là rượu mừng năm mới otoso trừ tà khí trong năm đó và để kéo dài tuổi thọ. Theo nghi thức, lần lượt từng người bắt đầu từ người ít tuổi nhất quay mặt về hướng đông và uống rượu sake. Mọi người dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Tiếp đến là món ăn ngày Tết osechi sau khi cúng Thần năm mới. Tục lệ mừng tuổi cho trẻ em hoặc tặng quà giữa những người thân trong gia đình hay trong dòng họ, bạn bè cũng được tiến hành kể từ sau Lễ đón Giao thừa năm mới. Riêng với việc tặng quà hoặc bưu thiếp chúc mừng năm mới trong các mối quan hệ mang tính đối ngoại giữa các cá nhân với nhau; cá nhân với một tổ chức cơ quan, công ty; cơ quan, công ty với nhau… thông thường đều được thực hiện từ những ngày cuối năm cũ giáp Tết và kể cả trong những ngày Tết, có thể bằng tặng trực tiếp hoặc qua bưu điện. Điều đáng lưu ý, theo phong tục, tập quán lưu truyền từ trước thì việc tặng quà hay mừng tuổi ngày Tết ở Nhật Bản không bị “nặng nề” vì giá trị vật chất mà chủ yếu mang ý nghĩa tinh thần, tình cảm, đạo lý ứng xử… Tuy nhiên, càng những năm gần đây, do chủ nghĩa thực tế, thực dụng ngày càng phát triển cũng đã làm biến đổi dần sang kiểu tặng quà, mừng tuổi phải tính toán “nặng nề” hơn về giá trị vật chất, tính kinh tế thị trường do đó ngày càng lấn sâu hơn vào tính văn hoá của việc tặng quà, mừng tuổi ngày Tết.

- Năm mới đến, người Nhật với quan niệm “vạn sự khởi đầu nan”, bắt đầu mọi việc bằng tâm trạng mới, tìm về sự tĩnh tại, thanh thản của tâm linh để hướng về Chân, Thiện, Mỹ bằng việc đi lễ ở các đền, chùa với ý nghĩa vừa là để xin Thần, Phật cho sức khỏe, tài, lộc, hạnh phúc… vừa là dịp tham quan, thư giãn, thưởng ngoạn các nơi danh thắng, di tích lịch sử-văn hoá. Một hoạt động khác cũng được coi là một trong những nét đẹp văn hoá đầu năm mới của người Nhật, đó là việc khai bút. Người Nhật dùng bút lông, mực tàu viết những chữ có nghĩa tốt đẹp đầu năm mới. Trẻ em thường viết chữ hatsuhinode(bình minh đầu năm) hay shinshun (xuân mới). Cũng như nhiều nước châu Á khác, trong những ngày Tết, trẻ em Nhật là đối tượng được sự quan tâm nhiều nhất của mỗi gia đình và cả xã hội. Các cháu đều được nhận tiền mừng tuổi và mặc những bộ quần áo mới… Trong ngày Tết, trò chơi truyền thống của trẻ em là chơi quay, thả diều, chơi hanetsuki (giống như cầu lông)… Tuy nhiên, theo nhịp sống đương đại, giờ đây những trò chơi này đã không được bọn trẻ ham thích bằng các trò chơi điện tử như game, internet và nhiều trò chơi hiện đại khác.

- Một nét đẹp đặc trưng khác của văn hoá Tết Nhật Bản không thể không nhắc đến, đó là các món ăn ngày Tết - được coi là tiêu biểu cho văn hoá ẩm thực của người Nhật. Trước hết, phải kể đến sashimi và sushi là hai món ăn cá sống nổi tiếng nhất và cũng phổ biến nhất khi nói về ẩm thực Nhật Bản. Sashimi là món ăn được chế biến hoàn toàn từ các hải sản tươi sống, còn sushi là món ăn bao gồm hai phần: một miếng cơm trộn với dấm và một miếng hải sản sống. Cả hai món này đều được chế biến theo một phương pháp cổ truyền có khoảng hơn 150 năm nay và các hải sản đều phải tuyệt đối an toàn vệ sinh thực phẩm. Thứ hai, osechi là những đồ ăn ngon được chuẩn bị với các món nấu, món trộn dấm, món nướng làm từ các loại hải sản, thịt gia súc, gia cầm và các loại rau với hương vị và màu sắc phong phú có thành phần dinh dưỡng hợp lý, được xếp trong một hộp sơn hình khối chữ nhật trong đỏ ngoài đen. Osechi được chế biến bằng các nguyên liệu thực phẩm theo phương pháp có thể để lâu trong cả tuần nhằm làm giảm lao động nội trợ của phái đẹp trong những ngày Tết. Điều thú vị khác ở osechi là mỗi loại nguyên liệu cấu thành đều mang một ý nghĩa riêng hàm chứa lời chúc một năm mới nhiều may mắn. Ví dụ: cá tráp mang ý nghĩa may mắn; rong biển với nghĩa vui mừng; đậu - mạnh khỏe; trứng cá trích – con cháu đông đúc; ngó sen – nhìn xa trông rộng; rau mắc – sinh lộc; tôm - tượng trưng cho sự trường thọ. Ngoài osechi còn có một món ăn khác cũng không thể thiếu trong ẩm thực Tết của người Nhật, đó là món zouni – món nướng thường gồm rau, cá, thịt gà cho vào nước sốt cùng với bánh dày. Người ta tỉa các nguyên liệu thực phẩm theo hình cánh hoa, nhuộm màu, sau đó đem bày ra bàn tiệc rất cầu kỳ và hấp dẫn để mừng đón năm mới. Bánh dày năm mới ( kagamimochi ) của từng vùng cũng đều khác nhau, ví dụ: vùng Tây Nhật Bản làm bánh hình tròn, nhưng vùng Đông Nhật Bản lại làm bánh hình vuông. Ngoài một số món ăn truyền thống cơ bản trên, tùy theo sở thích của từng gia đình Nhật, người ta có thể thêm các món khác theo kiểu ẩm thực Trung Hoa, Hàn Quốc hoặc kể cả các món ăn Âu, Mỹ. Về đồ uống, tuỳ theo mỗi gia đình cũng rất phong phú, đa dạng; có thể là các loại rượu, bia nhập ngoại, nhưng thường thì không thể thiếu rượu sake và một vài loại bia có thương hiệu nổi tiếng của Nhật như Ashahi, Sapporo, hay Kirin …

- Ngày mồng 7/1 – ngày thứ bảy của Tết Nguyên Đán trong quan niệm của người Nhật đó là tiết bảy loài hoa quả. Trong một năm có nhiều tiết, được coi là những mốc đánh dấu sự thay đổi của thời tiết và được người Nhật kỷ niệm những tiết này. Tiết bảy loài hoa quả là một trong năm tiết điển hình có trong năm. Trong ngày này, người Nhật ăn cháo nấu bằng 7 loại rau, quả để cầu sức khỏe. Người Nhật cho rằng cháo cũng là bài thuốc chữa được nhiều bệnh. Cháo nấu bằng rau, quả tươi sẽ có tác dụng tốt đối với dạ dày sau khi phải làm việc nhiều để tiêu hóa những món ăn quá nhiều dinh duỡng trong những ngày Tết.

- “ Làm vỡ ” bánh dày ( kagamibiraki ) là tục lệ được người Nhật tiến hành vào ngày 11/1. Bánh dày hình gương tượng trưng cho may mắn nên người Nhật không cắt mà “ làm vỡ “ bằng búa. Bánh dày vỡ ra được nấu thành chè với đậu đỏ cũng hàm ý sẽ mang lại những điều tốt đẹp.

- Ngày lễ thành nhân ( Seijinnohi ) diễn ra vào ngày 15/1, là ngày làm các nghi lễ trang trọng để công nhận và chúc mừng các nam nữ thanh niên Nhật tròn 20 tuổi trong năm đó, thường được tổ chức tập thể tại các ngôi đền nổi tiếng ở từng địa phương nơi các thanh niên đó cư trú. Vì có Lễ Thành nhân 15/1 nên không khí Tết vẫn sôi động cho đến tận ngày này, nhất là với các nam thanh nữ tú đến tuổi 20 và gia đình, bạn bè, người thân quen của họ. Sau ngày này, mọi người mới thực sự hết Tết và trở lại cuộc sống công việc bận rộn thường ngày.
 Sưu tầm

Văn hóa nhật bản, hình tượng một một dân tộc vĩ đại

Văn hóa của mỗi quốc gia luôn là phần linh hồn của quốc gia đó, nó được xây dựng trong suốt tiến trình hình thành và phát triển của mỗi dân tộc, vì thế nó giải thích tại sao mỗi đất nước lại có một nền văn hóa khác nhau. Văn hóa Nhật Bản cũng mang những đặc trưng riêng biệt của nó, biểu tượng cho sức mạnh tinh thần của con người Nhật Bản.
Văn hóa Nhật Bản là sự quan tâm lớn của không những là các bạn muốn đến sinh sống và học tập tại Nhật mà nó còn là một chủ để nghiên cứu trong nhiều trường đại học hiện nay. Tìm hiểu về văn hóa Nhật Bản là câu chuyện của không riêng gì những người yêu mến Nhật Bản mà còn cho ai tò mò khám phá đất nước nghèo tài nguyên nhưng giàu sức mạnh con người, giàu tinh thần võ sĩ đạo này.
 

Trong phạm vi bài viết này chúng ta sẽ không nêu ra những thành tựu cụ thể mà chỉ thông qua những thành tựu mà Nhật Bản đã đạt được để làm rõ xem văn hóa Nhật Bản đóng vai trò như thế nào trong toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của đất nước này.
 

van-hoa-nhat-ban

 

Văn hóa Nhật Bản đặc trưng bởi tinh thần võ sĩ đạo.

Văn hóa nhật bản thể hiện trong thời kỳ chiến tranh.

Nhật Bản, quốc gia bại trận trong Thế chiến thứ hai, đất nước không những không nhận được những ưu đãi mà còn phải hứng chịu bao nhiêu thảm họa khủng khiếp từ thiên nhiên. Sự tàn phá của chiến tranh, của thiên tai đã làm Nhật Bản nhiều lần phải đối mặt với biết bao khó khăn và thử thách, thế nhưng thực tế chứng minh họ vẫn phát triển không ngừng. Một phần bí ẩn của sự hồi sinh vươn lên không ngờ ấy chính là nền văn hóa Nhật Bản, yếu tố quan trọng tạo nên sức mạnh nội sinh, một động lực quan trọng thúc đẩy mọi bước đi của Nhật Bản. Hãy cùng tìm hiểu về văn hóa Nhật Bản để hiểu vì sao người Nhật có thể tạo nên sự đoàn kết, uy tín và sức mạnh phi thường đến khó tin.

Vấn đề giai cấp trong xã hội ảnh hưởng tới văn hóa nhật bản.

Một sự khác biệt rất lớn trong văn hóa Nhật Bản củng chính bởi sự phân hóa giai cấp trong xã hội. Quý tộc, võ sĩ và nông dân, thợ thủ công là ba tầng lớp chính trong xã hội Nhật Bản. Có thể đó cũng là nguyên nhân làm cho tư tưởng của đạo võ ăn sâu và thấm nhuần trong lối suy nghĩ của người Nhật khi mà võ sĩ trở thành một bộ phận chính trong xã hội. Sức mạnh tinh thần xuất phát từ nền văn hóa Nhật Bản đã tạo nên một nguồn nội lực vô tận cho toàn dân tộc Nhật chống chọi với bao khốc liệt và vươn lên không ngừng.
 

vo-si-dao-nhat-ban


Giáo lý của võ đạo học trong văn hóa Nhật Bản rèn luyện cho con người những đức tính quan trọng và căn bản nhất mà người võ sĩ phải rèn luyện. Đó là tính ngay thẳng, trung thực và dũng cảm. Những đức tính này trong văn hóa Nhật Bản đặc trưng bởi hình ảnh những người võ sĩ chiến đấu không ngừng ngại, biết lúc nào cần phải sống, khi nào cần phải chết, sẵn sàng xông pha và xả thân mình trong mọi hòan cảnh. Đó là sự chân thành, nhân từ và đức lễ phép. Chân thành đi kèm với lễ phép, bởi sự tôn trọng chỉ khi xuất phát một cách chân thực mới có giá trị với người đối diện. Điều này không chỉ riêng văn hóa Nhật Bản mà nó còn là điểm chung của văn hóa phương Đông. Nếu dũng cảm, ngay thẳng tạo nên sự mạnh mẽ, công bằng trong khí phách người nam nhi thì chân thành và nhân từ gợi lên sự mềm mại từ sức mạnh của nữ giới. Ngay thẳng quá, mạnh mẽ quá thì có thể làm con người trở nên thô bạo, nhưng nhân hậu quá cũng có thể tạo nên sự nhu nhược; có lẽ vì thế mà đạo giáo võ học trong văn hóa Nhật Bản đã rèn luyện cả hai cho người võ sĩ. Đó còn là khả năng tự kiểm soát mình và coi trọng danh dự. Ý thức sâu sắc về thanh danh mình là một động lực thúc đẩy con người tiến lên và bảo vệ giá trị của bản thân. Võ học đòi hỏi người võ sĩ phải biết kiềm chế cảm xúc và suy nghĩ của mình, không được biểu hiện ra ngoài dù là vui mừng hay giận dỗi. Có thể đó cũng là một nét làm nên sự bí ẩn của con người của con người Nhật, điểm đặc biệt của văn hóa Nhật Bản.

Yếu tố tôn giáo trong văn hóa nhật bản

Trong văn hóa Nhật Bản, tôn giáo đóng vai trò làm động lực quan trọng thúc đẩy sức mạnh bên trong con người. Yếu tố tâm linh không được sử dụng một cách mê tín, mù quáng mà được người Nhật khai thác để phục vụ cho quá trình phát triển con người, có giá trị tinh thần, phục vụ cuộc sống, tạo nên những đặc trưng khác biệt cho văn hóa Nhật Bản. Cái vẻ bí ẩn của người Nhật được bắt nguồn từ ý chí, sự nỗ lực nuôi dưỡng đam mê, theo đuổi mục đích của mình. Và trong hoàn cảnh điều kiện cần thiết sức mạnh nội sinh ấy sẽ bùng lên mạnh mẽ, đốt cháy mọi trở ngại trên đường đi của họ, tỏa ra thành những thành tựu vật chất vĩ đại.
 

ton-giao-nhat-ban

Văn hóa Nhật Bản - Nền văn hóa ít sự pha trộn.

Củng có không ít những ý kiến cho rằng do nước Nhật có một truyền thông phát triển lâu dài, không bị xam lược tính cho tới thời điểm năm 1945 nên rất ít bị pha trộn ép buộc mà thay vào đó là một sự du nhập hợp lý của các luồng văn hóa cũng như tôn giáo vào đất nước này và sau đó chính họ đã tạo nên cái riêng, cái sâu xa trong văn hóa Nhật Bản. Có thể nói văn hóa Nhật Bản là nền văn hóa giàu bản sắc dân tộc.
Không thể nói một cách đơn thuần rằng văn hóa Nhật Bản hoàn toàn là sự phát triển riêng của nước Nhật, mà ở đây nó là sự kết hợp thông minh, một sự phát triển biến những cái gì tiên tiến hiện đại thành cái của mình và từ đó chuyển hóa nó thành những thành công của riêng họ.

Qua hàng ngàn năm hình thành và phát triển, tuy chịu ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc và phương Tây, nhưng người Nhật cũng đã tạo dựng cho mình một nền văn hóa Nhật Bản đặc trưng với nhiều nét độc đáo riêng. Một Nhật Bản hiện đại đang vươn lên với sức mạnh nội sinh phi thường dù phải gánh chịu bao nhiêu khắc nghiệt từ thiên nhiên. Tìm hiểu văn hóa Nhật Bản để thấy rằng văn hóa Nhật Bản là đại diện tiêu biểu cho một nền văn hóa cân đối, hài hòa, phong phú và phát triển về nhiều mặt. Và đó cũng là lý giải cho sự vươn lên thần kỳ của một Nhật Bản hôm nay.
 
Sưu tầm

Cách trải nghiệm văn hóa Nhật Bản

Len lỏi vào những con ngõ Nhật Bản để ngắm Geisha, dự tiệc trà... và cảm nhận sâu sắc về đất nước hoa anh đào.
1. Tiệc trà truyền thống
Tiệc trà truyền thống Văn Hóa Nhật Bản là một truyền thống vô cùng cổ xưa của đất nước hoa anh đào. Mỗi bước và chi tiết trong quá trình pha, uống trà đều phải theo bốn tiêu chí: hài hòa, tôn trọng, trong sạch và bình thản.
Người tổ chức tiệc trà muốn truyền đến cho những khách uống trà một trải nghiệm về sự trong sáng, bình thản trong tâm hồn. Tất cả mọi yếu tố trong phòng trà đều hòa hợp với nhau để nói lên điều này: từ đồ ăn đi kèm, đồ dùng để uống trà tới những bức tranh trên tường.
Rất nhiều khách du lịch đã lựa chọn tham gia vào một tiệc trà truyền thống khi đến Kyoto, thành phố được cho là thanh lịch và cổ xưa nhất Nhật Bản. Loại trà mà người Nhật Bản thường dùng trong các tiệc trà này là loại Matcha có vị đắng nhần nhận, những loại đồ ngọt nhỏ sẽ được ăn kèm để đối với vị chát của Matcha.
 
nghe-thuat-tra-dao-nhat-ban
 
2. Onsen
Onsen hay các hồ tắm nước nóng ở Nhật Bản là một trải nghiệm khó quên với du khách. Những nhà tắm truyền thống mọc lên ở mọi ngóc ngách của đất nước Phù Tang, một số là các nhà tắm ngoài trời, tắm thác và tắm bùn. Nước khoáng từ các suối khoáng Nhật được cho là rất có lợi cho sức khỏe.
 
Onsen
3. Núi Phú Sỹ
Phú Sỹ là ngọn núi cao nhất Nhật Bản. Đó là một ngọn núi lửa đang ngủ say và lần phun trào gần nhất của nó đã cách đây 300 năm. Đây là một trong những cảnh quan biểu tượng của đất nước Nhật Bản và được coi là một trong ba ngọn núi thần thánh.
Du khách đến Nhật Bản có thể dễ dàng tham gia vào các tour leo núi Phú Sỹ. Mỗi năm, ngọn núi thần này đón tới 300.000 du khách tham quan, vào mùa leo núi tháng 6 đến tháng 8. Vào những mùa khác trong năm, tuyết rơi rất dày và thời tiết thay đổi thất thường nên bộ môn leo núi cũng tạm ngưng.
 
du-lich-nui-phu-si
 
4. Sushi
Có lẽ món ăn được xuất khẩu nhiều nhất trên thế giới của Nhật Bản là sushi. Món sushi cuộc truyền thống này được bán ở tất cả mọi cửa hàng trên khắp nước Nhật với nhiều chủng loại khác nhau. Du khách đến Nhật có nhiều cách để tìm hiểu sushi: nếm chúng trong các nhà hàng hoặc đi học một khóa làm sushi cơ bản.
 
sushi-
 
5. Geisha
Những geisha hiện đại ở Nhật là một nét quyến rũ độc đáo, đặc biệt là ở thành phố Kyoto. Geisha, những người ca kỹ bán nghệ nhưng không bán thân đã rất phổ biến từ thế kỷ 19 và vẫn còn tiếp tục hoạt động cho đến ngày nay.
Đến Kyoto, bạn có thể gặp Geisha trong các câu lạc bộ tư hoặc trên đường phố vào buổi sáng sớm hay chiều muộn.
 
Geisha
 
6. Vật Sumo
Sumo là môn thể thao và là một truyền thống được toàn dân Nhật Bản tôn vinh. Nó là môn thể thao dân tộc. Với lịch sử hàng trăm năm về trước và gắn liền với nhiều hoạt động tôn giáo, các trận Sumo thường tượng trưng cho những yếu tố tôn giáo. Các đấu sĩ phải tuân thủ chế độ vô cùng nghiêm ngặt, chẳng khác gì những người thanh tu.
 
Sumo-dau-vat
 
7. Thử rượu Sake
Loại rượu gạo độc nhất vô nhị này là quốc túy của Nhật Bản. Cách pha chế rượu đã được phát hiện từ ngàn năm trước và đến nay vẫn đóng một vai trò quan trọng trong văn hóa và tín ngưỡng Nhật. Trong mọi lễ hội tổ chức tại các đền chùa Nhật, đều có sự có mặt của rượu Sake.
Rượu Sake là để nhâm nhi và thưởng thức. Có hàng trăm nhà máy sản xuất Sake ở Nhật Bản với hương vị khác nhau. Mỗi loại rượu lại yêu cầu cách bảo quản khác nhau: nóng, lạnh hay ở nhiệt độ phòng. Chính vị vậy, du khách đến Nhật thường được khuyên tham gia vào các khóa huấn luyện thử rượu Sake để hiểu thêm về loại rượu phổ biến nhất đất nước này.
 
Rou-Sake
 
8. Văn hóa giới trẻ hiện đại
Văn Hóa Nhật Bản có một lịch sử và truyền thống lâu đời, nhưng nó cũng nổi tiếng với khía cạnh văn hóa hiện đại đầy màu sắc và ấn tượng.
Hãy ghé qua những con phố ở Tokyo và bạn sẽ hiểu rõ hơn về đời sống của các nhóm thanh niên Nhật Bản. Đặc biệt là ở con phố Harajuku, nơi người trẻ mặc thời trang Cosplay tựa như nhân vật trong phim hoạt hình, truyện tranh và thể nghiệm đủ mọi phong cách mà các kinh đô thời trang thế giới như Anh, Pháp đều phải tâm phục khẩu phục.
 
Sưu tầm

Tìm hiểu về Con người, Văn hóa, Phong Tục Nhật Bản

Nói đến Nhật Bản là chúng ta nghĩ ngay đến một cường quốc có sự phát triển đứng thứ 2 thế giới, sau Mỹ trong khi đó dân số Nhật Bản là một nước có dân số già, nguồn tài nguyên khan hiếm vậy tại sao Nhật Bản lại có một nền kinh tế vững mạnh như vậy?
 
Đất nước và con người Nhật Bản
Nói đến Nhật Bản là chúng ta nghĩ ngay đến một cường quốc có sự phát triển đứng thứ 2 thế giới, sau Mỹ trong khi đó dân số Nhật Bản là một nước có dân số già, nguồn tài nguyên khan hiếm vậy tại sao Nhật Bản lại có một nền kinh tế vững mạnh như vậy?
Về điều kiện tự nhiên, thì Nhật Bản là một quần đảo trên 3000 đảo phía ngoài lục địa châu Á ;
Diện tích la: 377.834km² Dân số 1268 triệu người
Thủ đô: Tokyo
Các thành phố chính: Osaka, Nagôya, Sappôrô, Kôbe
Tôn giáo chủ yếu đạo Phật .
Đất nước này nằm ở phía Đông của Hàn Quốc, Nga và Trung Quốc và trải từ biển Okhotsk ở phía bắc đến biển đông Trung Quốc ở phía nam.
Nhật Bản thuộc vùng ôn đới, có 4 mùa rõ rệt.với 4 mùa rõ rệt, Nhật Bản tự hào là một đảo quốc với thiên nhiên tuyệt đẹp được đánh giá là 1 trong 10 nước đẹp nhất thế giới. Mùa xuân vào tháng 4 với hoa Sakura, nở rộ làm ngây ngất lòng người, mùa thu với bức tranh đổi màu của lá –Momiji, mùa đông với thiên nhiên tươi đẹp, truyền thống văn hóa lâu năm, Nhật Bản ngày càng thu hút nhiều du học sinh đến học tập và làm việc.

Nước Nhật có 4 đảo lớn theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là: Honshu; hokkaido kyushu shikoku okinawa. Phần lớn đảo ở Nhật Bản có rất nhiều núi và núi lửa. Nhật Bản là quốc gia có dân số lớn thứ mười thế giới với ước tính khoảng 128 triệu người, bao gồm thủ đô Tokyo và một vài tỉnh xung quanh là vùng đô thị lớn nhất thế giới với khoảng 30 triệu người sinh sống

Nhật Bản có rất ít tài nguyên thiên nhiên. Các khoáng sản như quặng sắt, đồng đỏ, kẽm, chì và bạc, và các tài nguyên năng lượng quan trọng như dầu mỏ và than đều phải nhập khẩu. Địa hình và khí hậu Nhật Bản khiến người nông dân gặp rất nhiều khó khăn, và vì quốc gia này chỉ trồng cấy được một số cây trồng như lúa gạo, nên khoảng một nửa số lương thực phải nhập khẩu từ nước ngoài.
van-hoa-giao-tiep-nguoi-nhat-3

Tuy là một quốc gia rất khan hiếm tài nguyên thiên nhiên nhưng mà Nhật Bản luôn là một quốc gia đứng đầu thế giới về khoa học công nhệ và đứng thứ 2 thế giớii về tổng sản phẩm nội địa và là đất nước đứng thứ 5 trên thế giới trong lĩnh vực đầu tư cho quốc phòng; xếp thứ 4 thế giới về xuất khẩu và đứng thứ 6 thế giới về nhập khẩu. Quốc gia này là thành viên của tổ chức liên hợp quốc .

Hơn nữa Nhật Bản là quốc gia dẫn đầu thế giới trong các lĩnh vực về nghiên cứu khoa học, công nghệ máy móc, nghiên cứu y học. Gần 700.000 nhà nghiên cứu chia sẻ 130 tỉ USD của ngân sách nghiên cứu và phát triển, đứng hàng thứ 3 trên thế giới Nhật Bản là một trong những nước có những phát minh trong các lĩnh vực điện tử, ô tô, máy móc, robot công nghiệp, quang học, hóa chất, chất bán dẫn và kim loại. Nhật Bản dẫn đầu thế giới trong ngành khoa học robot, đây là quốc gia sở hữu hơn nửa (402.200 trong tổng 742.500) số robot cho công nghiệp sản xuất Nhật Bản đã phát minh ra QRIO, ASIMO và Aibo. Nhật Bản cũng là nhà sản xuất ô tô lớn nhất trên thế giới và là quê hương của 6 trong tổng số 15 nhà sản xuất ô tô lớn nhất toàn cầu cũng như 7 trong số 20 nhà sản xuất chất bán dẫn lớn nhất thế giới.
Các nhà nghiên cứu Nhật luôn khẳng định được mình qua các lần đoạt giải Nobel.
Về hệ thống giáo dục của Nhật Bản thì tiểu học, trung và đại học được áp dụng ở Nhật như một trong các cải cách thời Minh Trị. Từ năm 1947, Nhật Bản áp dụng hệ thống giáo dục bắt buộc gồm tiểu học và trung học trong chín năm cho học sinh từ sáu đến mười lăm tuổi. Hầu hết sau đó đều tiếp tục chương trình trung học và theo MEXT, khoảng 75,9% học sinh tốt nghiệp phổ thông tiếp tục học lên bậc đại học, cao đẳng hay các chương trình trao đổi giáo dục khác . Giáo dục ở Nhật có tính cạnh tranh rất cao đặc biệt ở các kì thi tuyển sinh đại học, điển hình là các kì thi tuyển của hai trường đại học cao cấp Tokyo và Kyoto. Chương trình đánh giá sinh viên quốc tế hợp tác OECD hiện xếp Nhật Bản ở vị trí thứ sáu thế giới.
Nhật Bản còn có các mỹ danh là "xứ sở hoa anh đào", vì cây hoa anh đào (桜 sakura) mọc trên khắp nước Nhật từ Bắc xuống Nam, những cánh hoa "thoắt nở thoắt tàn" được người Nhật yêu thích phản ánh tinh thần nhạy cảm, yêu cái đẹp, sống và chết đều quyết liệt của dân tộc họ; Là "đất nước hoa cúc" vì bông hoa cúc 16 cánh giống như Mặt Trời đang tỏa chiếu là biểu tượng của hoàng gia và là quốc huy Nhật Bản hiện nay; "đất nước Mặt Trời mọc" vì Nhật Bản là quốc gia ở vùng cực đông, tổ tiên của họ là nữ thần Mặt Trời Amaterasu (Thái dương thần nữ).
Về con người Nhật Bản có tính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hóa nước ngoài. Họ luôn tìm tòi và học hỏi làm sao tích lũy được nhiều kinh nghiệm cho mình. Chính tinh thần hiếu kỳ óc cầu tiến của người Nhật là động lực thúc đẩy họ trở thành một nước tiên tiến đứng thứ 2 thế giới. Ý thức tập thể cao, trong công việc người Nhật thường gạt cái tôi ra đề cao cái chung, họ có thể cạnh tranh với nhau, song cũng có lúc họ bắt tay với nhau đẻ đạt được mục đích chung để đánh bại đối thủ nước ngoài. Người Nhật Bản rất tôn trọng thứ bậc và địa vị,đây là tập tục có từ lâu đời của người Nhật, người Nhật có óc thẩm mỹ rất cao, họ biết sắp xếp công việc và cách trang trí nhà cửa, xếp đồ đạc hay cách bài trí bữa cơm. Họ không chỉ biểu hiện bên ngoài mà còn cả lối sống, suy nghĩ và cung cách làm việc của họ, người Nhật có tính tiết kiệm và làm việc chăm chỉ, lòng trung thành của họ được khẳng định. Họ tăng cường sức mạnh của mình bằng cách nuôi dưỡng tình cảm trung thành của các công nhân bằng cách đào tạo có chế độ đãi ngộ rất tốt đẻ thu hút nguồn nhân lực . Xã hội Nhật Bản là một xã hội có sự cạnh tranh quyết liệt nhưng không tạo sự cạnh tranh giữa các cá nhân mà các cá nhân phải làm việc quên mình cho sự cạnh tranh của nhóm. Người Nhật luôn làm theo mục tiêu đã định, tôn trọng thứ bậc trong xã hội, cần cù và có tính trách nhiệm cao, yêu thiên nhiên và có khiếu thẩm mỹ, tinh tế , khiêm nhường và luôn luôn giữ chư tín. Nói tóm lại đất nước Nhật Bản là một đất nước đầy tiềm năng để chúng ta hướng tới .
I/ Người Nhật
Tính hiếu kỳ và nhạy cảm với văn hóa nước ngoài
Chúng ta có thể nói rằng không có dân tộc nào nhạy bén về văn hoá của nước ngoài như người Nhật. Họ không ngừng theo dõi những biến động tình hình bên ngoài, đánh giá và cân nhắc những ảnh hưởng của các trào lưu và xu hướng chính đang diễn ra đối với Nhật, và nếu như họ phát hiện ra trào lưu nào đang thắng thế thì họ có xu hướng sẵn sàng học hỏi, nghiên cứu để bắt kịp trào lưu đó. Và chính tinh thần thực dụng, tính hiếu kỳ và óc cầu tiến của người Nhật là những động lực thúc đẩy họ bắt kịp với các nước tiên tiến. Họ không đặt vấn đề phê phán hay chọn lọc khi học mà bằng mọi cách học cho hết. Sau đó họ mới nghiền ngẫm tìm ra những yếu tố có thể cải biến. Đến đây họ lại phát huy được thế mạnh của óc quan sát tỉ mỉ và sự tinh tế vốn có của văn hoá dân tộc.
Mặc dù rất nhạy cảm đối với văn hoá nước ngoài, song người Nhật rất ý thức về tài sản văn hoá của họ. Tư liệu lịch sử văn hoá, đền đài, chùa chiền… đại bộ phận vẫn còn được bảo tồn cho đến ngày nay. Hơn thế, các ngành nghề truyền thống không những không bị mai một đi mà còn được cải tiến kỹ thuật và càng trở nên tinh tế hơn.
Ý thức tập thể
Tập thể đóng một vai trò quan trọng đối với người Nhật. Nó được thể hiện ngay từ trong cách xưng hô với người ngoài khi nói chuyện. Trong công việc người Nhật thường gạt cái tôi lại để đề cao cái chung, tìm sự hòa hợp giữa mình và những người xung quanh. Các tập thể có thể cạnh tranh với nhau rất gay gắt song cũng có lúc họ lại bắt tay với nhau để có thể đạt được mục đích chung như để đánh bại đối thủ nước ngoài. Vì vậy mà điều tối kỵ là làm mất danh dự của tập thể. Một học giả nước ngoài nghiên cứu về Nhật Bản đã đối lập “văn hóa hổ thẹn” của người Nhật với “văn hoá tội lỗi” của phương Tây.
Tôn trọng thứ bậc và địa vị
Ý thức tôn trọng thứ bậc có lẽ đã có từ lâu trong đời sống của người Nhật. Thái độ nhún mình trước những người có địa vị, quyền chức cũng có ở một số nước khác thời cận đại nhưng đặc biệt ở Nhật cho đến ngày nay vẫn còn đậm nét. Tập quán này được nhấn mạnh trong hơn 250 năm dưới thời Tokugawa. Ngày nay ý thức tôn trọng thứ bậc vẫn được thể hiện trong đời sống hàng ngày. Ví dụ trong phòng họp, người có chức vụ thấp nhất sẽ ngồi gần cửa ra vào, người có chức vụ càng cao thì càng ngồi gần phía bên trong. Hoặc trong các buổi tiệc tổ chức tại nhà hàng một cách đột xuất thì mọi người đều biết vị trí của mình mà không cần có sự hướng dẫn nào khác. Sắc thái tôn ti trật tự trong xã hội Nhật Bản thể hiện rất rõ trong ngôn ngữ xưng hô và hình thức chào hỏi đối với từng đối tượng xã hội cụ thể. Đối với người lớn tuổi hay người có địa vị thì phải dùng ngôn ngữ kính trọng (sonkeigo), khi nói về mình và những người trong gia đình mình thì dùng ngôn ngữ khiêm nhường (kenjogo).
Chính từ cơ cấu này mà tinh thần đoàn kết và lòng trung thành của người Nhật được phát sinh, và nhờ đó mà việc động viên cho sự thực hiện mục tiêu của toàn thể tập đoàn là tương đối dễ dàng.
Óc thẩm mỹ
Ấn tượng ban đầu của bất kỳ ai lần đầu đến thăm Nhật Bản là ngạc nhiên và thán phục về óc thẩm mỹ của người Nhật, từ cách trang trí nhà cửa sắp, xếp đồ đạc trong gia đình hay cách bài trí bữa cơm đều khiến cho mọi người có cảm giác tiếp cận một sự tinh tế, một óc thẩm mỹ cao. Nhưng óc thẩm mỹ của người Nhật không chỉ biểu hiện qua các hiện tượng bên ngoài mà còn qua lối suy nghĩ và cung cách làm việc của họ hàng ngày, hay nói rộng ra là nhân sinh quan của họ. Một người đan quạt tre ngắm đi ngắm lại xem cái quạt của mình làm đã cân đối chưa, có cần phải chau chuốt gì không, mặc dù khi làm như vậy thì anh ta sẽ mất nhiều thời gian hơn, đồng nghĩa với việc lợi nhuận thu về được ít hơn, song đối với người dân Nhật Bản ngoài mục đích lợi nhuận thì họ còn muốn đạt được một mục tiêu khác không kém phần quan trọng - đó là cảm giác thoải mái khi hoàn thành mỹ mãn một công việc dù là rất nhỏ. Họ luôn tìm kiếm cái đẹp trong công việc của mình, người Nhật nổi tiếng là người làm việc cần mẫn, xem công việc của công ty như là công việc của mình, luôn tận tâm tận sức, nhiều khi họ làm việc không phải vì lợi ích cá nhân của mình, họ xem công việc của họ không những là “hoạt động kinh tế” mà còn là “hoạt động thẩm mỹ”.

II/Trang phục
Ngày nay ở Nhật Bản, nam nữ ở mọi lứa tuổi sống ở các thành phố, thị trấn và nông thôn đều mặc quần áo kiểu phương Tây vì nó thuận tiện cho sinh hoạt hàng ngày. Chỉ có một số ít người già làm những nghề đặc biệt mới mặc áo kimono truyền thống và họ mặc chủ yếu vào dịp lễ hội, đôi khi người ta cũng mặc kimono ở nhà cho thoải mái. Tuy nhiên, áo kimono cũng không mất đi vai trò quan trọng của nó như là một phần của văn hoá Nhật Bản. Đặc biệt là phụ nữ thường gắn áo kimono với truyền thống dân tộc và thích mặc nó vào những dịp đặc biệt.
Theo truyền thống, áo kimono được may bằng vải dệt từ các nguyên liệu tự nhiên như vải lanh, bông, lụa. Kimono là một chiếc áo choàng được giữ cố định bằng một vành khăn rộng cuốn chặt vào người cùng với một số dây đai và dây buộc, ống tay áo dài và rộng thùng thình. Kimono có hình dạng khác hẳn với chiếc áo choàng kiểu cổ của Trung Quốc, vốn thường bị nhầm lẫn trong tranh minh hoạ ở các sách của phương Tây. Kimono của nam giới có vành khăn đơn giản và hẹp hơn. Áo kimono cho phụ nữ thường có các hoạ tiết hoa, lá và các biểu tượng thiên nhiên khác, phản ánh tình yêu thiên nhiên của người Nhật Bản. Tuỳ theo tuổi tác của người mặc mà màu sắc được chú ý rất nghiêm ngặt, những màu có gốc sáng, đặc biệt là màu đỏ, được dùng cho trẻ em và phụ nữ trẻ chưa chồng, trái hẳn với một số nước phương Tây ở đó màu lam nhạt được coi là thích hợp với trẻ em. Ở một số nước, màu đỏ và những màu sáng khác thường được coi là những màu thích hợp nhất đối với phụ nữ trưởng thành, nhưng ở Nhật Bản, nhất là khi mặc kimono, màu sắc chỉ hạn chế ở những màu dịu, không sặc sỡ. Họ cũng không mặc áo màu đen như những phụ nữ đã lập gia đình ở một số nước Latinh. Xu hướng này thậm chí còn được thể hiện ở trang phục kiểu phương Tây mà hầu hết phụ nữ Nhật Bản hiện hay mặc. Các thiếu nữ thường mặc những quần áo có màu sáng, còn người già thì dùng những màu dịu hơn tuỳ theo độ tuổi.
Trong những năm gần đây, áo kimono được làm bằng vải tổng hợp, vì vậy những người không có tiền mua lụa cũng có thể mua được. Áo kimono, khăn thắt lưng và những đồ kèm theo làm bằng lụa được bán với giá cực kỳ đắt nên phụ nữ trẻ chỉ có thể mặc vào những dịp đặc biệt như đám cưới, đám tang, lễ tốt nghiệp hoặc lễ trưởng thành (khi tới 20 tuổi) v.v... Qua trang phục kiểu phương Tây hàng ngày ta thấy hầu hết các xu thế mốt của châu Âu và châu Mỹ đã được du nhập nhanh chóng vào các trang phục của thanh niên Nhật Bản. Nhật Bản hiện là thị trường lớn của các hãng thời trang hàng đầu thế giới.
III/ Gia đình
Gia đình truyền thống Nhật Bản là một hình mẫu gia trưởng với nhiều thế hệ cùng chung sống trong một ngôi nhà và mối quan hệ, giúp đỡ lẫn nhau giữa những người cùng huyết thống rất mật thiết. Mỗi thành viên trong gia đình, tuỳ theo tuổi tác và giới tính, có một địa vị nhất định, cũng như trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ gia đình.
Tuy vậy, từ Chiến tranh thế giới thứ hai đã có những thay đổi lớn. Dòng người rời bỏ nông thôn ra thành phố đã làm cho mô hình gia đình lớn tan rã, thay thế bằng gia đình hạt nhân và các ngôi nhà nhỏ được xây dựng ngày một nhiều.
Hầu hết các cặp vợ chồng trẻ Nhật Bản hiện nay có một hoặc hai con, sống trong các căn hộ không được thoải mái lắm về diện tích. Sau khi kết hôn, phần lớn họ ra ở riêng. Trung bình muốn có một mái ấm của riêng mình, họ phải bỏ ra số tiền từ 3 đến 5 tỷ đồng Việt Nam. Chính vì vậy mà nhiều cặp vợ chồng trẻ sống trong các căn hộ cho thuê, hoặc nhà của công ty. Theo thống kê năm 2000, tỷ lệ có nhà riêng là 61,3%, và số tiền để dành trung bình là gần 10 triệu yên (khoảng 1,2 tỷ đồng Việt Nam). Tỷ lệ có 3 thế hệ trong một gia đình là 15%. Số nhà có phòng riêng cho trẻ con: 76%. Số người thuộc tầng lớp trung lưu: 88,5%.
Tỷ lệ phụ nữ đi làm việc ở Nhật Bản ngày càng tăng. Tuy vậy, đa số họ đều nghỉ việc sau khi kết hôn hoặc sinh con. Họ thường đảm nhiệm các công việc của gia đình, không cần phải thuê người giúp việc. Các bà vợ thường nắm hầu bao gia đình và quyết định khoản tiền tiêu vặt hàng tháng của chồng. Vậy nhưng cả vợ lẫn chồng thường có tài khoản bí mật để chi tiêu vào việc riêng của mình.
Những người đi làm việc ở công ty thường đi làm về rất muộn hoặc đi nhậu với bạn bè, đồng nghiệp vào buổi tối. Vì vậy, cảnh người chồng không cùng ăn tối với gia đình là điều rất bình thường. Những ông bố Nhật Bản có rất ít thời gian cho con cái và gia đình. Do phải đi làm xa, họ thường rời nhà khi con chưa thức dậy, và trở về khi chúng đã đi ngủ. Nhân viên các công ty còn thường có những chuyến công tác dài ngày, hoặc thuyên chuyển công việc trong và ngoài Nhật Bản. Do việc học hành của con cái, hay trông nom bố mẹ già mà không ít người phải chấp nhận sống độc thân xa gia đình trong thời gian dài.
cac-kieu-cui-chao-trong-giao-tiep-cua-nguoi-nhat

Vì lý do này hay lý do khác, ngày càng nhiều thanh niên Nhật chọn cách sống một mình, và sự lựa chọn đó đang dần hình thành tương lai của xã hội Nhật Bản. Hiện có tới 25% nam và 16% nữ thanh niên xứ Phù Tang ở độ tuổi 30 quyết định sống độc thân và không sinh con. Niềm đam mê của một bộ phận người trẻ tuổi thành đạt Nhật Bản giờ đây là thức ăn ngon, rượu và công việc. Xu hướng này ngày càng gia tăng trong một đất nước mà hôn nhân và gia đình vốn là giá trị truyền thống lâu đời
IV/Tiếng Nhật
Là ngôn ngữ duy nhất của một dân tộc sinh sống trên khắp quần đảo, tiếng Nhật là một thí dụ hiếm có của mối tương quan dân tộc-lãnh thổ-ngôn ngữ rõ nét và đơn nhất. Mặc dù có những khác nhau nhỏ giữa các tiếng địa phương nhưng xét trên toàn cục, về mặt ngôn ngữ học, có sự thống nhất ở những điểm chủ yếu. Tuy người Nhật thường cho rằng ngôn ngữ của họ khó đối với người nước ngoài, nhưng một hệ thống ngữ âm tương đối đơn giản và các quy tắc văn phạm khá linh hoạt làm cho tiếng Nhật trở thành dễ học hơn so với một số ngôn ngữ khác, ít nhất là cho mục đích hội thoại, dù chữ viết tượng hình và các dạng chữ viết khác gây khó khăn cho việc đọc và viết.
Về nguồn gốc ngữ văn của ngôn ngữ, các học giả có những nhìn nhận rất khác nhau. Một số học giả cho rằng tiếng Nhật thuộc họ Ural-Altaic ở phương Bắc cùng với tiếng Thổ Nhĩ Kỳ và Triều Tiên, trong khi đó một số học giả lại khẳng định rằng nó là một thành viên của họ Tây Tạng-Miến Điện hoặc Mã lai-Polynexia ở phương Nam và những người khác lại khẳng định rằng nó có xuất xứ từ sự pha trộn của cả hai.
Từ vựng tiếng Nhật đã được làm giàu bằng cách vay mượn từ các ngôn ngữ khác: của Trung Quốc thời xưa, của Bồ Đào Nha và Hà Lan trong những thế kỷ gần đây, và của các ngôn ngữ phương Tây từ thời Minh Trị khi nước Nhật tiếp xúc nhiều với thế giới phương Tây. Việc Nhật hoá đã cho ra đời nhiều từ mới từ những từ vay mượn và xu hướng này đang tăng mạnh trong những năm gần đây.
Tiếng Nhật được coi là có sự mô tả tỉ mỉ hơn các ngôn ngữ khác đối với các phạm trù như lúa gạo, thực vật, cá và thời tiết. Điều này dường như bắt nguồn từ ý thức đã ăn sâu và bền chặt về các nguồn thức ăn cần thiết để duy trì cuộc sống trong điều kiện khí hậu gió mùa. Ngược lại, những từ liên quan đến các thiên thể, đặc biệt là các vì sao lại rất ít. Người Nhật mặc dù là dân sống ở đảo nhưng lại không đi lại được trên biển bằng việc quan sát thiên văn.
Một nét nổi bật của tiếng Nhật là các hình thức biểu đạt theo cấp độ khác nhau tuỳ theo tình huống. Tiếng Nhật có cách nói thông thường, khiêm nhường hoặc kính trọng, tuỳ thuộc vào mức độ kính trọng cần thiết đối với người đối thoại, vào các dịp và các yếu tố khác. Động từ, danh từ và các từ khác thay đổi hoàn toàn hoặc một phần theo cấp độ được dùng. Kính ngữ vẫn còn đóng vai trò quan trọng trong xã giao, cũng như sự khác nhau giữa từ ngữ và cách nói của nam và nữ.
Hệ thống chữ viết của Trung Quốc dường như được đưa đầu tiên vào Nhật Bản qua Triều Tiên, có thể vào khoảng thế kỷ III, sau hệ thống chữ cái Latinh được đưa vào Anh hai hoặc ba thế kỷ. Người Nhật đã chọn loại chữ viết tượng hình này để biểu đạt ngôn ngữ của mình. Điều này có thể thực hiện được vì chữ tượng hình, như tên gọi của nó, biểu hiện ý nghĩa hơn là âm thanh. Do âm của các từ tiếng Nhật không giống như âm của các từ tiếng Trung Quốc có cùng nghĩa nên cần phải xác lập phương pháp thể hiện âm tiếng Nhật. Việc này được thực hiện bằng cách tạo nên những mẫu chữ cái đơn giản trên cơ sở sao chép hoặc sửa đổi một số chữ tượng hình và gán cho mỗi chữ cái một âm cố định. Bằng cách này, hai bảng chữ cái ghi âm riêng biệt đã ra đời và hiện nay vẫn đang được sử dụng song song. Vì vậy, tiếng Nhật được viết với sự phối hợp hai kiểu ký tự khác nhau - trước tiên là chữ kanji hay là Hán tự, là những chữ tượng hình biểu đạt nghĩa, và tuỳ theo các chữ kanji ghép cùng hay yếu tố khác mà có thể có những cách phát âm khác nhau. Thứ hai là chữ kana hay các ký hiệu ngữ âm được dùng để hướng dẫn việc phát âm đúng những chữ kanji hiếm hoặc lạ, hoặc để chỉ những biến đổi về văn phạm v.v... Bảng chữ cái nét mềm hiragana phục vụ hai mục đích đầu tiên này, còn bảng chữ cái nét cứng katakana được dùng để phiên âm các từ ngoại lai. Mặc dù hệ thống chữ tượng hình có thể truyền đạt một ý nghĩa đầy đủ chỉ bằng một ký tự, nhưng điều bất tiện là cần phải có một ký tự riêng để biểu thị mỗi ý nghĩa. Vì vậy ở Nhật Bản trong thời kỳ trước chiến tranh, số ký tự được dùng phổ biến cho các mục đích hàng ngày là khoảng 4000 ký tự. Từ thời kỳ chiến tranh, để phục vụ cho giáo dục học đường và các mục đích khác, số ký tự được chính thức dạy trong chương trình giáo dục bắt buộc và dùng trong báo chí v.v... được giới hạn ở 1850 ký tự. Nhiều sách xuất bản ở nước ngoài nhấn mạnh đến khó khăn của học sinh Nhật phải học một số lượng lớn các ký tự này. Tuy nhiên, trên thực tế khi đã nắm vững những nguyên tắc cơ bản hình thành các ký tự thì việc học trở nên dễ dàng hơn là người ta tưởng.

V/Ẩm thực
Đồ ăn thường ngày của người Nhật Bản chủ yếu là cơm, cá, rau. Thịt ít có trong thành phần bữa ăn. Điều này đôi khi được các sách nước ngoài gán cho là do ảnh hưởng của đạo Phật. Mặc dù những điều dạy của đạo Phật cũng có ít nhiều tác động đến vấn đề này trong một thời gian dài, nhưng nguyên nhân quan trọng hơn cả là do quỹ đất nông nghiệp hạn hẹp nên người ta phải tập trung đất cho việc sản xuất ngũ cốc cần thiết, khiến đất dành cho chăn nuôi gia súc rất ít ỏi.
Chất đạm và chất khoáng cần thiết được lấy chủ yếu từ cá và rong biển. Từ những nguyên liệu cơ bản này, người Nhật Bản đã sáng tạo ra các món ăn dân tộc bằng óc thẩm mỹ, sự khéo tay và khẩu vị tinh tế. Mùi vị các món ăn Nhật Bản đơn giản hơn so với hầu hết các món ăn của phương Tây. Đồ ăn của Nhật Bản chú trọng đến đặc sản theo từng mùa và sự lựa chọn các bát đĩa đựng thức ăn một cách nghệ thuật.
Sự tiếp xúc ngày một tăng với các nước khác trên thế giới kể từ thời Minh Trị đã làm thay đổi bữa ăn của người Nhật Bản, đặc biệt là từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi nền kinh tế thịnh vượng và mức sống đã được nâng lên. Việc tiêu thụ các sản phẩm sữa, thịt cũng như bánh mì và các sản phẩm làm từ bột mì đã tăng mạnh trong khi đó tiêu thụ gạo và các thức ăn truyền thống giảm dần. Đã có sự Âu hoá rộng rãi trong khẩu phần ăn thường ngày như có thể thấy trong các sơ đồ về lượng thực phẩm được tiêu thụ.
Do có sự cải thiện hệ thống phân phối hàng hoá nên sự khác biệt về ẩm thực giữa người dân thành thị và nông thôn đã không còn nữa. Ở các thành phố, có nhiều nhà hàng chuyên nấu các món ăn nước ngoài, trong đó có một số nhà hàng bán với giá phải chăng. Xu hướng này, ở một mức độ nhất định, cũng đang phát triển tới các tỉnh. Nhiều món ăn thông thường được dùng hiện nay là những món ăn đã được Nhật hoá từ các món của các nước khác, thí dụ như món sukiyaki, một món ăn gồm thịt, rau và các nguyên liệu khác được trần qua nước có pha rượu ngọt, xì dầu và gia vị; món tempura gồm cá, hải sản và rau được chiên giòn; món tonkatsu được làm bằng thịt lợn tẩm bột; và món cơm cari.
Hầu hết người Nhật dùng đũa để ăn. Bữa sáng thường đơn giản, bữa trưa cũng khá nhẹ nhàng và bữa ăn chính là bữa tối, khi cả gia đình có mặt đầy đủ. Người Nhật đang có xu hướng chuộng đồ ăn chế biến sẵn, tiện lợi khi nấu tại nhà hoặc tìm kiếm hương vị lạ từ các món ăn nước ngoài khi ăn tiệm. Khẩu vị của thế hệ trẻ cũng có rất nhiều thay đổi. Thanh niên thích ăn thịt hơn cá, và thích các món ăn Âu hơn các món ăn Nhật Bản truyền thống.

Trước đây, tiếng Nhật với sự kết hợp giữa hai loại ký tự được viết theo cách viết chính thức từ trên xuống dưới, từ phải sang trái. Ngày nay, một số lớn các tài liệu cả chính thức lẫn không chính thức, đặc biệt là các tài liệu không chính thức được viết theo chiều ngang từ trái sang phải, tuy rằng báo chí và các tác phẩm văn học vẫn sử dụng kiểu viết dọc truyền thống
 
Sưu tầm